Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2016

NLVH- VĂN CẢM NHẬN- K1+2 "VIỆT BẮC"(TỐ HỮU)


phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

Cảm nhận Khổ 1-2 bài Việt Bắc ( Tố Hữu)
Nhắc đến Tố Hữu,  ai cũng biết ông là một trong những nhà thơ trữ tình Cách Mạng hàng đầu của nền văn học Việt Nam. Thơ Tố Hữu là tiếng thơ của lẽ sống lớn, tình cảm lớn, niềm vui lớn của con người Cách mạng và cuộc sống của quân dân ta trong kháng chiến. Bài “Việt Bắc” là đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác thơ của Tố Hữu nói riêng, của thơ kháng chiến chống Pháp nói chung.Có thể nói, “Việt Bắc” là khúc tình ca và cũng là khúc hùng ca,thế hiện ân tình sâu nặng, thủy chung của nhà thơ đối với căn cứ địa Cách Mạng cả nước. Điều này càng được khắc họa rõ nét  ngay trong hai  khổ thơ đầu tiên của bài “VB”: 
“Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”
...
“Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi 
Áo chàm đưa buổi phân li 
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”
Như chúng ta đã biết, trong bài “VB”, TH đã vận dụng lối nói đối đáp quen thuộc của cao dao dân ca để thể hiện nghĩa tình Cách mạng rộng lớn. Vào tháng 10/1954, khi Đảng và chính phủ giã từ chiến khu VB- nơi đã cưu mang đảng chính Phủ trong suốt 15 năm kháng chiến, TH đã xúc động làm bài thơ này để bày tỏ tình cảm gắn bó và lời hứa thủy chung son sắt. Nhân vật trữ tình trong bài thơ chính là người cán bộ về xuôi và nhân dân Việt Bắc trong một buổi chia tay đầy lưu luyến.
           Mở đầu bài thơ là lời hỏi đầu tiên của người ở lại:
“Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”

Trong câu thơ đầu, “mình” chính là những người cán bộ về xuôi, là Đảng, là Chính phủ, còn “ta” là người ở lại, là nhân dân Việt Bắc. Bên cạnh đó, Tố Hữu đã có cách sử dụng đại từ “mình-ta” sáng tạo vừa làm cho lời thơ mang giọng điệu tâm tình, ngọt ngào, tha thiết vừa thể hiện nghĩa tình Cách Mạng.Nhân dân Việt Bắc hỏi cán bộ về xuôi có nhớ đến nhân dân Việt Bắc hay không, có nhớ đển “mười lăm năm ấy” chúng ta dã từng gắn bó thiết tha mặn nồng hay không? Cụm từ “mười lăm năm ấy” gợi liên tưởng đến một khoảng thời gian dài (1940-1954). Và trong “mười lăm năm ấy”, đồng bào cũng như thiên nhiên Việt Bắc đã từng cưu mang Đảng, Chính phủ, Cán bộ trong thời kì kháng chiến chống Pháp. Từ láy “thiết tha” cùng với hình ảnh ẩn dụ cảm giác “mặn nồng” gợi nên một gắn bó sâu nặng, đầy nghĩa tình giữa Cán bộ với nhân dân Việt Bắc.Mặt khác, điệp từ “có nhớ” cùng với hai câu hỏi tu từ liên tiếp nhau chứng tỏ người ở lại quan tâm nhất đến “Cán bộ về xuôi có nhớ Việt Bắc hay không?”. Nhìn cây có nhớ đến núi (hoán dụ), nhớ đến cảnh vật thiên nhiên Việt Bắc hay không? Nhìn song có nhớ đến ngọn nguồn( ẩn dụ), nhớ đến cái nôi của kháng chiến hay không? Tác giả đã khéo léo sử dụng những hình ảnh hoán dụ, ẩn dụ thông qua những hình ảnh quen thuộc, mang đặc trưng của núi rừng Việt Bắc. Qua bốn câu thơ đầu tiên, ta thấy tác giả đã nêu được điều mà nhân dân VB quan tâm nhất. Đó là khi về xuôi rồi, người cán bộ có nhớ, có còn thủy chung với VB, với nhân dân, với kháng chiến hay không? Lời hỏi của người ở lại cũng đã nêu được chủ đề của cả bài thơ, thể hiện khá rõ tình cảm gắn bó giữa  người ở lại và người ra đi .Tố Hữu sử dụng những hình ảnh quen thuộc, cách diễn đạt mang đậm tính dân tộc, thể thơ lục bát với cách ngắt nhịp chẵn kết hợp với lối tập Kiều “Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng” đã làm nên giọng thơ tâm tình, ngọt ngào, tha thiết, phù hợp với việc bày tỏ tâm trạng của người đi, kẻ ở trong một buổi chia tay đầy lưu luyến.  Qua đoạn thơ, hình ảnh thiên nhiên hùng vĩ, hoang sơ của Việt Bắc cũng hiện lên một cách chân thật và tự nhiên.
Nếu như ở khổ đầu là lời hỏi của nhân dân Việt Bắc dành cho Cán bộ thì đến với khổ hai lại là lời bày tỏ tâm trạng của người Cán bộ trong buổi chia tay bâng khuâng, lưu luyến:

“Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi 
Áo chàm đưa buổi phân li 
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”
         Cuộc chia tay diễn ra ở “bên cồn”, đây là một hình ảnh đặc trưng của thiên nhiên Việt Bắc. Trong buổi chia tay đầy lưu luyến đó, người đi-kẻ ở đều có những nỗi nhớ riêng. Nỗi nhớ của người ở lại được bộc lộ khá rõ qua cụm từ :“tiếng ai tha thiết”.  “Tiếng ai” chính là tiếng của nhân dân Việt Bắc vừa mới cất lời hỏi người ra đi. Tác giả đã sử dụng đại từ “ai” nghe  rất đỗi ngọt ngào và mang tính dân tộc. Từ láy “tha thiết” vừa miêu tả giọng điệu thiết tha, vừa thể hiện tình cảm châm thành của người ở lại.  Tâm trạng của người ra đi được miêu tả qua từ láy “bâng khuâng”, “bồn chồn” gợi cho người đọc cảm nhận được sự lưu luyến, nhớ nhung, một cảm giác vui buồn khó tả trong buổi chia tay. Nhớ vì đã cùng chung sống mười lăm năm, lưu luyến vì có biết bao nhiêu là kỉ niệm, buồn vì  sắp phải xa nhau. Vui vì chiến thắng, cuộc kháng chiến chống Pháp đã thành công dù phải trải qua biết bao gian khổ cực nhọc nhưng nay mơ ước đã thành hiện thực. Nhưng cũng lo lắng liệu xa nhau có nhớ nhau không? Tình cảm có gắn bó như xưa hay không? Tâm trạng  lưu luyến, bịn rịn  của người di, kẻ ở còn được thể hiện qua hành động “cầm tay nhau”. Với biết bao tâm trạng nhưng người ra đi không biết nói gì ngoài việc cầm tay nhau . “Cầm tay” là hành động yêu thương, gắn bó nghĩa tình với Việt Bắc, tình cảm lưu luyến, bịn rịn không nỡ rời xa. “Cầm tay nhau” còn thể hiện tinh thần đoàn kết,  là lời hứa sẽ thủy chung son sắt, xa nhau sẽ nhớ về nhau. Lời đáp của người ra đi không chỉ bộc lộ tâm trạng mà còn trả lời vấn đề mà người ở lại đã đặt ra ở khố thơ đầu tiên. Tố Hữu có cách dùng từ ngữ, hình ảnh mang đậm sắc dân tộc , giọng thơ tâm tình, ngọt ngào, tha thiết, ngắt nhịp đều đặn. Qua lời đáp, ta thấy được tính cách của người đi- sống tình nghĩa, thủy chung, gắn bó với nhau.  Thấp thoáng trong lời đối đáp là hình ảnh thiên nhiên Việt Bắc đặc trưng với núi non, với cồn ven song. Qua đó, thiên nhiên Việt Bắc hiện lên với nét phóng khoáng, hoang sơ và chân thật.

                  Đoạn thơ là khúc ca ân nghĩa, là hồi tưởng đầy xúc động và ân tình của Tố Hữu về chặng đường mười lăm năm đã qua của đất nước (từ khởi nghĩa Bắc Sơn năm 1940 đến hoà bình lập lại năm 1954), từ đó mà hướng về tương lai tươi sáng, nhắc nhở tâm nguyện thuỷ chung. Viết về nghĩa tình dân tộc và hướng về đồng bào mình, Tố Hữu đã phát huy được hình thức nghệ thuật mang tính dân tộc, trong đó nổi bật là cách sử dụng thể thơ lục bát và ngôn ngữ thơ đậm sắc thái dân gian thông qua những hình ảnh quen thuộc, gần gũi  với cuộc sống và con người ở chiến khu VB. Đoạn thơ trên cũng mang đậm dấu ấn phong cách thơ TH, từ nội dung đến nghệ thuật đều mang đậm tính dân tộc, giọng thơ tâm tình ngọt ngào tha thiết, có tính chính trị, trữ tình.

     Có thể coi Việt Bắc là khúc tình ca và cũng là khúc hùng ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến mà cội nguồn sâu xa của nó là tình yêu quê hương đất nước, là niềm tự hào về sức mạnh của nhân dân, là truyền thống ân nghĩa, đạo lí thuỷ chung của dân tộc Việt Nam. 
-----------------------------------------
                                         ( Đề cương Ngữ văn 12-VTS, 2016-2017, trang 43,44)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét