Hiển thị các bài đăng có nhãn Hướng dẫn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hướng dẫn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2016

VIỆT BẮC - TỐ HỮU


phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu
VIỆT BẮC  ( Tố Hữu )
1.      Hoàn cảnh sáng tác: KCCP
-Việt Bắc là căn cứ cách mạng, là đầu não cuộc kháng chiến chống Pháp. Đồng bào và thiên nhiên Việt Bắc đã cưu mang, che chở cho Đảng, Chính Phủ và bộ đội trong suốt 15 năm gian khổ (1940-1954). “Việt Bắc” là địa danh gắn liền với những  chiến công hiển hách của dân tộc.
- Sau chiến thắng ĐBP (tháng 5/1954) , Hiệp định Giơ nevơ được ký kết (tháng 7/1954) hòa bình đã trở lại, miền Bắc được giải phóng.
- Tháng 10/1954 các cơ quan Trung ương của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về Hà Nội. Nhân dịp này Tố Hữu sáng tác “VB” để ghi lại tình cảm lưu luyến, gắn bó giữa cán bộ và nhân dân VB, giữa miền ngược và miền xuôi. Đồng thời khẳng định tình cảm thuỷ chung của người cán bộ về xuôi với nhân dân Việt Bắc, với cuộc kháng chiến với Cách mạng.
 2. Vị trí đoạn trích:”VB “là một trong những đỉnh cao của thơ TH.Đây cũng là tác phẩm xuất sắc của VHVN thời kì KCCP. VB là một bài thơ dài.Đoạn trích trong SGK nằm ở đoạn mở đầu trong phần I của bài VB nói về những kỉ niệm kháng chiến.
3.Đặc điểm nghệ thuật:  Bài VB mang đậm màu sắc dân tộc, thể hiện rõ hồn thơ TH
+ Kết cấu theo lối đối đáp
+ Về cấu tạo tứ thơ: Nhà thơ sáng tạo ra một hoàn cảnh đặc biệt để bộc lộ cảm xúc, dạt dào. Đó là cuộc chia tay đầy lưu luyến, có kẻ ở người đi.
+ Âm điệu ngọt ngào, êm ái, trở đi trở lại nhịp nhàng như lời ru, đưa người đọc vào thế giới tâm tình đằm thắm.
+Thể thơ lục bát được vận dụng tài tình vừa tạo ra âm hưởng thống nhất vừa biến hóa đa dạng.Nhịp thơ, điệp cấu trúc, gieo vần, nhạc điệu khi nhanh,khi chậm, khi trầm lắngtha thiết nỗi nhớ ,khi hào hùng dồn dập…
+Những hình ảnh thơ dung dị quen thuộc, tiêu biểu cho cảnh vật và con người VB.
4. Chủ đề: Tố Hữu sáng tác “VB” để ghi lại tình cảm lưu luyến, gắn bó giữa cán bộ và nhân dân VB, giữa miền ngược và miền xuôi. Đồng thời khẳng định tình cảm thuỷ chung của người cán bộ về xuôi với nhân dân Việt Bắc, với cuộc kháng chiến với Cách mạng.
5.Giá trị nội dung.Việt Bắc là bản tổng kết bằng thơ về cuộc kháng chiến chống Pháp
 -VB là khúc hùng ca và cũng là bản tình ca về  truyền thống anh hùng, bất khuất, ân nghĩa, chung thủy của CM, của dân tộc ta.
-Việt Bắc “một bức tranh toàn cảnh về thiên nhiên, con người, cuộc sống, lao động và chiến đấu của chiến khu VB trong suốt 15 năm.
- Đó là tiếng lòng của nhà thơ, của những người VN trong kháng chiến, của cả dân tộc đối với nhân dân, với kháng chiến, với CM, với Đảng và Bác Hồ.
- Việt Bắc khắc họa rõ nét vẻ đẹp tâm hồn, tính cách con người VN luôn sống gắn bó, thủy chung, lạc quan cho dù trong những ngày gian khó hay hạnh phúc.    

HỆ THỐNG LUẬN ĐIỂM
- K1:  4 câu đầu: Người ở lại nhắc lại kỉ niệm về tình quân dân trong mười lăm năm thiết tha  mặn nồng
-K2: 4 câu kế: Người ra đi bày tỏ cảm xúc bâng khuâng lưu luyến trong buổi chia tay Việt Bắc để về Hà Nội
- K3:12câu tiêp theo (Mình đi… Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?) : Người ở lại gợi nhắc những khó khăn , gian khổ trong cuộc kháng chiến đánh đuổi kẻ thù xâm lược là thựcdân Pháp
-K4: 10 câu tiếp theo (Ta với mình…suối Lê vơi đầy): Đáp lại lời Việt Bắc,người ra đi khẳng định tình cảm mặn mà, thủy chung không bao giờ quên nghĩa tình của đồng bào.
-K5: 12 câu tiếp theo (Ta đi ta nhớ những ngày…suối xa…): Người về xuôi miêu tả cụ thể nỗi nhớ những kỉ niệm chia ngọt sẻ bùi trong cuộc sống sinh hoạt ở chiến khu.
-K6: 10 câu tiếp theo (Ta về...thủy chung): Người về xuôi da diết nhớ cảnh và người Việt Bắc (Bức tranh tứbình)
-K7: 10 câu tiếp theo (Nhớ khi...Nhị Hà): Người cán bộ kháng chiến nhớ về những ngày  chiến dịch, quân và dân ta chiến đấu chống các trận càn quét của giặc ở chiến khu
-K8: 12 câu tiếp theo (Những đường ...núi Hồng): Người về xuôi nhớ về không khí sôi nổi của cuộc kháng chiến ở Việt Bắc và niềm vui trước những chiến công liên tiếp của quân và dân ta.
-K9: Phần còn lại: Người về xuôi nhớ Bác Hồ và Chính phủ ở VB
 NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
  1. Cảm nhận của anh chị về phong cách thơ Tố Hữu qua khổ thơ 3, 5, 6
  2. Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn qua khổ 8,9 bài ”VB” của TH
  3. Phân tích khổ 1-2, 3-4 để thấy rõ ”VB là bản hùng ca về cuộc kháng chiến cũng là bản tình ca về nghĩa tình cách mạng”
-----------
                      ( Đề cương Ngữ văn 12-VTS, 2016-2017, trang 69-70)

NLVH- VĂN CẢM NHẬN- K1+2 "VIỆT BẮC"(TỐ HỮU)


phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

Cảm nhận Khổ 1-2 bài Việt Bắc ( Tố Hữu)
Nhắc đến Tố Hữu,  ai cũng biết ông là một trong những nhà thơ trữ tình Cách Mạng hàng đầu của nền văn học Việt Nam. Thơ Tố Hữu là tiếng thơ của lẽ sống lớn, tình cảm lớn, niềm vui lớn của con người Cách mạng và cuộc sống của quân dân ta trong kháng chiến. Bài “Việt Bắc” là đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác thơ của Tố Hữu nói riêng, của thơ kháng chiến chống Pháp nói chung.Có thể nói, “Việt Bắc” là khúc tình ca và cũng là khúc hùng ca,thế hiện ân tình sâu nặng, thủy chung của nhà thơ đối với căn cứ địa Cách Mạng cả nước. Điều này càng được khắc họa rõ nét  ngay trong hai  khổ thơ đầu tiên của bài “VB”: 
“Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”
...
“Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi 
Áo chàm đưa buổi phân li 
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”
Như chúng ta đã biết, trong bài “VB”, TH đã vận dụng lối nói đối đáp quen thuộc của cao dao dân ca để thể hiện nghĩa tình Cách mạng rộng lớn. Vào tháng 10/1954, khi Đảng và chính phủ giã từ chiến khu VB- nơi đã cưu mang đảng chính Phủ trong suốt 15 năm kháng chiến, TH đã xúc động làm bài thơ này để bày tỏ tình cảm gắn bó và lời hứa thủy chung son sắt. Nhân vật trữ tình trong bài thơ chính là người cán bộ về xuôi và nhân dân Việt Bắc trong một buổi chia tay đầy lưu luyến.
           Mở đầu bài thơ là lời hỏi đầu tiên của người ở lại:
“Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”

Trong câu thơ đầu, “mình” chính là những người cán bộ về xuôi, là Đảng, là Chính phủ, còn “ta” là người ở lại, là nhân dân Việt Bắc. Bên cạnh đó, Tố Hữu đã có cách sử dụng đại từ “mình-ta” sáng tạo vừa làm cho lời thơ mang giọng điệu tâm tình, ngọt ngào, tha thiết vừa thể hiện nghĩa tình Cách Mạng.Nhân dân Việt Bắc hỏi cán bộ về xuôi có nhớ đến nhân dân Việt Bắc hay không, có nhớ đển “mười lăm năm ấy” chúng ta dã từng gắn bó thiết tha mặn nồng hay không? Cụm từ “mười lăm năm ấy” gợi liên tưởng đến một khoảng thời gian dài (1940-1954). Và trong “mười lăm năm ấy”, đồng bào cũng như thiên nhiên Việt Bắc đã từng cưu mang Đảng, Chính phủ, Cán bộ trong thời kì kháng chiến chống Pháp. Từ láy “thiết tha” cùng với hình ảnh ẩn dụ cảm giác “mặn nồng” gợi nên một gắn bó sâu nặng, đầy nghĩa tình giữa Cán bộ với nhân dân Việt Bắc.Mặt khác, điệp từ “có nhớ” cùng với hai câu hỏi tu từ liên tiếp nhau chứng tỏ người ở lại quan tâm nhất đến “Cán bộ về xuôi có nhớ Việt Bắc hay không?”. Nhìn cây có nhớ đến núi (hoán dụ), nhớ đến cảnh vật thiên nhiên Việt Bắc hay không? Nhìn song có nhớ đến ngọn nguồn( ẩn dụ), nhớ đến cái nôi của kháng chiến hay không? Tác giả đã khéo léo sử dụng những hình ảnh hoán dụ, ẩn dụ thông qua những hình ảnh quen thuộc, mang đặc trưng của núi rừng Việt Bắc. Qua bốn câu thơ đầu tiên, ta thấy tác giả đã nêu được điều mà nhân dân VB quan tâm nhất. Đó là khi về xuôi rồi, người cán bộ có nhớ, có còn thủy chung với VB, với nhân dân, với kháng chiến hay không? Lời hỏi của người ở lại cũng đã nêu được chủ đề của cả bài thơ, thể hiện khá rõ tình cảm gắn bó giữa  người ở lại và người ra đi .Tố Hữu sử dụng những hình ảnh quen thuộc, cách diễn đạt mang đậm tính dân tộc, thể thơ lục bát với cách ngắt nhịp chẵn kết hợp với lối tập Kiều “Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng” đã làm nên giọng thơ tâm tình, ngọt ngào, tha thiết, phù hợp với việc bày tỏ tâm trạng của người đi, kẻ ở trong một buổi chia tay đầy lưu luyến.  Qua đoạn thơ, hình ảnh thiên nhiên hùng vĩ, hoang sơ của Việt Bắc cũng hiện lên một cách chân thật và tự nhiên.
Nếu như ở khổ đầu là lời hỏi của nhân dân Việt Bắc dành cho Cán bộ thì đến với khổ hai lại là lời bày tỏ tâm trạng của người Cán bộ trong buổi chia tay bâng khuâng, lưu luyến:

“Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi 
Áo chàm đưa buổi phân li 
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”
         Cuộc chia tay diễn ra ở “bên cồn”, đây là một hình ảnh đặc trưng của thiên nhiên Việt Bắc. Trong buổi chia tay đầy lưu luyến đó, người đi-kẻ ở đều có những nỗi nhớ riêng. Nỗi nhớ của người ở lại được bộc lộ khá rõ qua cụm từ :“tiếng ai tha thiết”.  “Tiếng ai” chính là tiếng của nhân dân Việt Bắc vừa mới cất lời hỏi người ra đi. Tác giả đã sử dụng đại từ “ai” nghe  rất đỗi ngọt ngào và mang tính dân tộc. Từ láy “tha thiết” vừa miêu tả giọng điệu thiết tha, vừa thể hiện tình cảm châm thành của người ở lại.  Tâm trạng của người ra đi được miêu tả qua từ láy “bâng khuâng”, “bồn chồn” gợi cho người đọc cảm nhận được sự lưu luyến, nhớ nhung, một cảm giác vui buồn khó tả trong buổi chia tay. Nhớ vì đã cùng chung sống mười lăm năm, lưu luyến vì có biết bao nhiêu là kỉ niệm, buồn vì  sắp phải xa nhau. Vui vì chiến thắng, cuộc kháng chiến chống Pháp đã thành công dù phải trải qua biết bao gian khổ cực nhọc nhưng nay mơ ước đã thành hiện thực. Nhưng cũng lo lắng liệu xa nhau có nhớ nhau không? Tình cảm có gắn bó như xưa hay không? Tâm trạng  lưu luyến, bịn rịn  của người di, kẻ ở còn được thể hiện qua hành động “cầm tay nhau”. Với biết bao tâm trạng nhưng người ra đi không biết nói gì ngoài việc cầm tay nhau . “Cầm tay” là hành động yêu thương, gắn bó nghĩa tình với Việt Bắc, tình cảm lưu luyến, bịn rịn không nỡ rời xa. “Cầm tay nhau” còn thể hiện tinh thần đoàn kết,  là lời hứa sẽ thủy chung son sắt, xa nhau sẽ nhớ về nhau. Lời đáp của người ra đi không chỉ bộc lộ tâm trạng mà còn trả lời vấn đề mà người ở lại đã đặt ra ở khố thơ đầu tiên. Tố Hữu có cách dùng từ ngữ, hình ảnh mang đậm sắc dân tộc , giọng thơ tâm tình, ngọt ngào, tha thiết, ngắt nhịp đều đặn. Qua lời đáp, ta thấy được tính cách của người đi- sống tình nghĩa, thủy chung, gắn bó với nhau.  Thấp thoáng trong lời đối đáp là hình ảnh thiên nhiên Việt Bắc đặc trưng với núi non, với cồn ven song. Qua đó, thiên nhiên Việt Bắc hiện lên với nét phóng khoáng, hoang sơ và chân thật.

                  Đoạn thơ là khúc ca ân nghĩa, là hồi tưởng đầy xúc động và ân tình của Tố Hữu về chặng đường mười lăm năm đã qua của đất nước (từ khởi nghĩa Bắc Sơn năm 1940 đến hoà bình lập lại năm 1954), từ đó mà hướng về tương lai tươi sáng, nhắc nhở tâm nguyện thuỷ chung. Viết về nghĩa tình dân tộc và hướng về đồng bào mình, Tố Hữu đã phát huy được hình thức nghệ thuật mang tính dân tộc, trong đó nổi bật là cách sử dụng thể thơ lục bát và ngôn ngữ thơ đậm sắc thái dân gian thông qua những hình ảnh quen thuộc, gần gũi  với cuộc sống và con người ở chiến khu VB. Đoạn thơ trên cũng mang đậm dấu ấn phong cách thơ TH, từ nội dung đến nghệ thuật đều mang đậm tính dân tộc, giọng thơ tâm tình ngọt ngào tha thiết, có tính chính trị, trữ tình.

     Có thể coi Việt Bắc là khúc tình ca và cũng là khúc hùng ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến mà cội nguồn sâu xa của nó là tình yêu quê hương đất nước, là niềm tự hào về sức mạnh của nhân dân, là truyền thống ân nghĩa, đạo lí thuỷ chung của dân tộc Việt Nam. 
-----------------------------------------
                                         ( Đề cương Ngữ văn 12-VTS, 2016-2017, trang 43,44)